Logo Xem boi tu vi

Giác ngộ là gì?

Giác ngộ là gì? Ý nghĩa của giác ngộ trong đạo Phật? Giác ngộ trong đạo Phật là thấu hiểu được lẽ phải của một con người từ thủa ban sơ cho tới khi qua đời, tìm được những thứ mà từ xưa đến giờ chúng ta chưa từng biết đến. Vậy giác ngộ là gì? Giác ngộ liệu có phải là sự giải thoát hay không?

Giác ngộ là gì? Ý nghĩa của giác ngộ trong đạo Phật

Giác ngộ là gì?

Giác ngộ theo nghĩa Hán Việt chính là thức tỉnh, hiểu rõ một chân lý nào đó. Giác ngộ là sự hiểu biết không chỉ bằng trí thức, lý luận mà bằng sự cảm nhận sâu xa, bằng kinh nghiệm sống trực tiếp. Do đó đôi khi giác ngộ cũng được gọi là tuệ giác.

Tuy nhiên, hiểu một cách đơn giản, giác ngộ chính là từ bỏ đi tật xấu của mình mà sống theo lẽ phải. Giác ngộ đó chưa phải là nghĩa giác ngộ của đạo Phật. Đạo Phật nói giác ngộ là sự thấu triệt được lẽ thật nơi con người từ ban sơ cho tới cuối cùng, tìm được cái từ xưa đến giờ chúng ta chưa từng biết.

giac-ngo-la-gi-y-nghia-cua-giac-ngo-trong-dao-phat

Giác ngộ là gì? Ý nghĩa của giác ngộ trong đạo Phật

Một người phàm trần nếu thực sự được giác ngộ thì sẽ có thể được đắc đạo thành Phật - đỉnh cao của tiềm năng và sự phát triển của con người, đó cũng là mục tiêu cứu giúp chúng sinh mà nhà Phật thường nói.

Giác ngộ có đồng nghĩa với giải thoát hay không?

Nhiều người thường lầm tưởng giác ngộ là giải thoát, cho rằng một khi con người đã giác ngộ thì tự nhiên sẽ được giải thoát. Thực ra khái niệm giải thoát đã có từ trước khi Đức Phật ra đời. Nó phổ biến trong văn hóa cuối Veda và Upanishad tại Ấn Độ.

TRA CỨU THẦN SỐ HỌC ONLINE

Xem Đường Đời, Sự Nghiệp, Tình Duyên, Vận Mệnh, Các Năm Đỉnh Cao Cuộc Đời...

(*) Họ và tên của bạn:
(*) Ngày tháng năm sinh:
 

Theo nét văn hóa này thì giải thoát chính là thoát ra khỏi vòng tái sinh luân hồi. Trong khi đó, với đạo Phật, giải thoát chỉ đơn giản là thoát khỏi sự đau khổ, muộn phiền.

Giáo lý của Đức Phật bao gồm: Tứ thánh đế (là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ), Tam pháp ấn (là vô thường, vô ngã và khổ), Duyên khỏi (là sự tương quan, tương duyên, tương hữu giữa mọi sự vật).

Đó là những sự thật mà Ngài đã giác ngộ và giảng dạy cho chúng sinh. Phải hiểu rõ những sự thật này thì người ta mới theo đó mà tu taajkp, theo con đường Bát chánh đạo, thuộc vào 3 môn tu học là: Giới, định, tuệ. Phải hiểu biết rồi mới thực hành được. Như vậy phải giác ngộ rồi mới giải thoát được.

Ý nghĩa giác ngộ trong đạo Phật

Cụm từ giác ngộ mọi người đã biết từ lâu, song ý nghĩa sâu sa của nó thì không phải ai cũng biết được. Thế gian có những trường hợp, ví dụ có một người ham mê rượu chè cờ bạc, khi được bạn bè người thân khuyên bỏ thì anh ta đã bỏ được. Người ta gọi anh ấy là đã biết giác ngộ. Như vậy có phải giác ngộ là bỏ đi được tập tính xấu của mình hay không? Trong nhà phật, đó chưa phải là giác ngộ. 

Trong sử sách của nhà Phật có ghi chép rõ ràng rằng, Hoàng tử đã từ bỏ ngôi vị của mình, quyết chí đi tu là do ngài đã thấy được cảnh chúng sinh già, bệnh, chết đi. Ngài tự biết rõ ràng người kia già rồi thì chính bản thân ta cũng sẽ già, người kia bệnh rồi bản thân ta cũng sẽ bệnh, người kia chết đi rồi thì ta sớm muộn cũng phải chết. Sinh lão bệnh tử là một quy luật không ai chối cãi được. Thấy rõ như vậy nên Ngài mới nhất quyết đi tu để tìm ra được những lời giải đáp cho thắc mắc: Mai kia nhắm mắt ta sẽ đi về đâu? Muốn ra khỏi sinh tử thì phải làm như thế nào?

giac-ngo-la-gi-y-nghia-cua-giac-ngo-trong-dao-phat

Khi tu gặp được các vị tiên dạy từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền, Ngài đã chứng qua hết nhưng chưa giải quyết được những vấn đề trọng đại của con người mà Ngài đang tìm kiếm, thế nên Ngài đã bỏ đi. Đến với người thầy dạy ngài tu chứng định Tứ không là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chứng được Tứ không rồi, Ngài vẫn cảm thấy mơ hồ và chưa tìm được cách giải quyết cho các vấn đề của con người, nên lần này Ngài tiếp tục bỏ đi. Rõ ràng là Đức Phật đi tu để giải quyết vấn đề của con người, chứ không muốn tỏ ra mình là một người thông thái gì hết.

Những vấn đề này của Đức Phật có người thắc mắc cũng có người thờ ơ với nó. Đa số đề chấp nhận và không có ý định phản bác gì. Đó là thái độ thờ ơ với chính số phận của mình. Đức Phật thì lại không đành lòng như vậy, Ngài quyết tìm ra cho bằng được các manh mối. Đến dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài nhập định 49 ngày đêm. Đêm cuối cùng, canh thứ nhất, Đức Phật chứng được Túc mạnh minh, bừng sáng chuyện của mình từ thời vô lượng kiếp tới giờ. Trong kinh kệ, Ngài nói: "Ta nhớ vô số kiếp về trước như nhớ chuyện mới xảy ra hôm qua". Ngài biết rõ rằng con người không phải chỉ có mặt ở nhân gian 1 lần, mà là vô số lần.

Từ canh hai đến canh ba, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy rõ chúng sinh sau khi chết theo nghiệp đi trong 6 ngả luân hồi, như người đứng trên lần cao nhìn xuống thấy kẻ đứng giữa ngã tư đường không biết đi về đâu. Như vậy khi chúng ta chết rồi chúng ta sẽ không mất mà đi theo nghiệp của từng người. Nên nhà Phật thường nói đến nhân quả, nghiệp báo để cho chúng sinh tu hành, giác ngộ.

Từ canh ba tới canh năm, khi sao mai mọc, Ngài chứng được Lậu tận minh, dứt hết mầm sinh tử Từ đó Ngài mới dạy chúng sinh phương pháp tu để thoát khỏi sinh tử. Đức Phật đã chứng hết, đã biết và thấy được rõ ràng mới dạy lại cho chúng ta. Đức Phật xoáy thằng bào con người cho nên cái ngài giác ngộ  là giác ngộ thẳng về con người. Chúng ta mê cũng là mê nơi con người, thấy thân là thật, trong khi Phật thấy thân này là giả. Phật thấy thân giả nên Ngài giác, chúng ra thấy thân thật nên chúng ta còn mê muội. Bởi cho thân này là thật nên trân quý, những gì nó ưa thích đều muốn được thỏa mãn. Nhưng mình muốn thân mình thỏa mãn, người khác cũng muốn thân họ thỏa mãn, tất cả đều muốn như vậy thành ra giành giật của nhau. Nhỏ giành giạt theo nhỏ, lớn giành giật theo lớn. Như vậy người thân trong gia đình vì chút tư lợi mà giành giật của nhau, không chịu phần thiệt về mình. Vì vậy thân thật mới là thân đau khổ.

Ngược lại nếu là thân giả thì saqo? Đa số sẽ cho rằng, nếu là thân giả thì lo chi, cần gì làm việc. Bồ tát thấy thân mình là giả, thân chúng sanh giả, các Ngài đã lăn xae vào đời để cứu khổ cứu nạn mà không sợ hãi bất cứ điều gì. Tại sao vậy? Cái giả mà chúng sinh lầm cho là thật nên giành giật, giết hại lẫn nhau, các ngài có bổn phận phải thức tỉnh họ, đừng giết hại lẫn nhau. Như vậy các ngài càng biết giả càng thương những người đang chìm vào cơn mê.

Chúng ta thường ít thương người khác, trừ những người thân thuộc của mình, còn những người xung quanh thì mặc kệ, không thương. Bồ tát thấy cuộc đời tạm bợ, con người có rồi mất, không bền lâu. Mà chúng sinh thì lại đắm chìm trong đau khổ nên các Ngài khởi lòng từ bi muốn cứu độ chúng sinh. Nhờ giác ngộ mới có từ bi, nếu không giác ngộ sẽ không có lòng từ bi.